Tại sao Asean xứng đáng nhận Giải Nobel Hòa bình (The Straits Times - 26/03/2017)


 
Bộ trưởng ngoại giao Singapore, ông S. Rajaratnam (bên phải) tại cuộc họp lịch sử ở Bangkok nhằm kí kết bản tuyên bố thành lập Asean vào ngày 8/8/1967, cùng với (từ trái qua) các bộ trưởng ngoại giao Narciso Ramos (Philippines), Adam Malik (Indonesia), Thanat Khoman bộ trưởng (Thái Lan) và Tun Abdul Razak (Malaysia). Năm người đàn ông dũng cảm cùng nhau kí kết bản tuyên bố này đến từ những nền văn hóa vô cùng đa dạng.

Một người Thái theo đạo Phật, một người Philippines đạo Cơ đốc, hai người đạo Hồi và một người từng theo đạo Hindu là những nhà lãnh đạo cùng nhau thành lập Asean, Năm mươi năm trải qua, Asean đã mang lại hòa bình và thịnh vượng cho khu vực.

Hãy thử tượng tượng một thế giới nơi Trung Đông hòa bình. Viễn cảnh đó có vẻ gần như là điều không tưởng. Hãy thử tưởng tượng một thế giới nơi Israel và Paletine, hai quốc gia tách ra từ một vùng lãnh thổ, sống hài hòa với nhau.

Không tưởng ư? Nhưng đó là điều mà Malaysia và Singapore đã làm được. Sau cuộc chia cắt gay gắt năm 1965, hai quốc gia này hiện đang chung sống hòa bình với nhau.

Hãy thử tưởng tượng một thế giới nơi Ai Cập, quốc gia Hồi giáo đông dân nhất ở Trung Đông, vươn lên thành một nền dân chủ ổn định và thịnh vượng.

Không tưởng ư? Thế thì hãy tự hỏi tại sao Indonesia, quốc gia Hồi giáo đông dân nhất Đông Nam Á (với dân số đông gấp bốn lần Ai Cập), đã có thể vươn lên thành một ngọn hải đăng dân chủ. Ai Cập và Indonesia có nhiều điểm tương đồng khác. Cả hai nước đều từng chịu vấn nạn tham nhũng. Cả hai nước đều trải qua hàng thế kỉ dưới sự thống trị cứng rắn của các nhà cai trị quân sự - Suharto (1967-98) và (Hosni) Mubarak (1981-2011). Thế nhưng, Ai Cập vẫn còn là một quốc gia bất ổn dưới chế độ thống trị quân sự trong khi Indonesia đã trở thành nền dân chủ hàng đầu trong thế giới Hồi giáo.

Sự khác biệt trên là do đâu? Câu trả lời chỉ có một từ, đó là Asean.

Phản bác rõ ràng là Trung Đông lâu nay là khu vực chiến tranh trong khi Đông Nam Á đã trở thành khu vực hòa bình. Dĩ nhiên Trung Đông đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh: cuộc chiến Ả Rập-Israel năm 1967 và 1973, cuộc chiến Iran-Iraq 1980-88, cuộc xâm lược Kuwait năm 1990 của Iraq và cuộc xâm lược Iraq năm 2003 của Mỹ.

Thế nhưng, Đông Nam Á đã hứng chịu nhiều bom đạn hơn bất cứ khu vực nào trên thế giới kể từ Chiến tranh Thế giới Thứ 2. Đông Nam Á đã trải qua những cuộc chiến quy mô hơn và kéo dài hơn Trung Đông. Chiến tranh Việt Nam lan rộng sang Lào và Campuchia, kéo dài từ thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954 đến khi Sài Gòn thất thủ tháng 4/1975, khi các nhà ngoại giao và lính Mỹ nhục nhã rút lui.

Tiếp theo đó là Việt Nam đưa quân vào Campuchia vào tháng 12 năm 1978, dẫn đến cuộc tranh chấp kéo dài một thập kỉ giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Theo số liệu thống kê, số quân nhân thương vong tại Đông Nam Á trong Chiến tranh Thế giới Thứ 2 từ năm 1946 đến năm 2008 (ước tính từ 1.87 triệu đến 7.35 triệu người) cao hơn số quân nhân thương vong tại Trung Đông trong cùng giai đoạn đó (ước tính từ 530,000 đến 2.43 triệu người).

Khi Tổng thống Barack Obama viếng thăm Lào vào tháng 9/2016, ông nhắc nhở chúng ta việc Mỹ đã “thả hơn hai triệu tấn bom tại Lào - nhiều hơn số bom Mỹ thả xuống Đức và Nhật Bản cộng lại. Tức là Lào là quốc gia bị thả bom nặng nề nhất trong lịch sử, tính trên đầu người. Như một người Lào từng nói, ‘bom rơi như mưa’. Làng xã và toàn bộ những thung lũng bị san phẳng. Cánh đồng Chum từ thời xa xưa cũng bị tàn phá. Vô số người dân bị giết”.

Đây chính là lý do tại sao chúng ta không thể phủ nhận Asean là một phép lạ. Asean đã mang lại hòa bình bền vững cho một khu vực trải qua nhiều cuộc xung đột lớn. Như phần cuối cuốn sách này sẽ nhấn mạnh, Asean xứng đáng được nhận Giải Nobel Hòa bình từ lâu rồi.

MỘT KHU VỰC CỦA HY VỌNG VÀ HÒA BÌNH

Ai cũng biết phương Tây có cái nhìn hết sức bi quan về viễn cảnh thế giới Hồi giáo. Sự bi quan và nỗi lo sợ sâu sắc về thế giới Hồi giáo dường như đã ăn sâu vào đoàn thể chính trị phương Tây. Donald Trump đã triệt để lợi dụng điều này khi kêu gọi “ngăn hoàn toàn và toàn bộ người Hồi giáo nhập cảnh nước Mỹ”. Thế nhưng dù Trump bị chỉ trích nặng nề về điều này, ông ta vẫn thắng cuộc bầu cử tổng thống. Ông ta đã đánh trúng nỗi lo ngại sâu sắc về Hồi giáo trong tâm lý người Mỹ.

Những ai tìm kiếm nguồn hy vọng trong thế giới Hồi giáo, và một câu chuyện phản bác những quan điểm tiêu cực như vậy, không cần tìm đâu xa ngoài Đông Nam Á.

Khoảng 25,000 người trẻ trên khắp thế giới, kể cả phương Tây, đã gia nhập Nhà nước Hồi giáo tại Iraq và Syria (ISIS). Thế nhưng chúng ta nên tập trung vào 25,000 người Hồi giáo này hay 8,000 lần con số đó, 205 triệu người Hồi giáo sống hòa bình tại Indonesia, quốc gia Hồi giáo đông dân nhất thế giới? Với tư cách là nên dân chủ thành công nhất trong thế giới Hồi giáo, Indonesia củng cố vị  thế của Đông Nam Á là một vùng an toàn hòa bình, tương phản với những quốc gia hỗn loạn tại trung tâm khối Ả Rập, kể cả Libya và Syria, Iraq và Yemen, và những quốc gia này sẽ còn mâu thuẫn một thời gian nữa.

Ở Đông Nam Á có nhiều người Hồi giáo hơn bất cứ khu vực nào khác ngoài Trung Đông, xét theo tỉ lệ phần trăm dân số. Nếu dân số Hồi giáo tại Đông Nam Á - gần bằng toàn bộ dân số khối Ả Rập - có thể chung sống hòa bình với các nước láng giềng không theo Hồi giáo đồng thời tiếp tục tiến bộ về mặt kinh tế, họ mang đến hy vọng rằng xung đột giữa các văn minh không phải là số phận tất yếu của thế giới.

Gần một triệu người tị nạn Syria đổ xô sang châu Âu vào năm 2015, điều đó khiến châu Âu nhận thức sâu sắc rằng số phận của họ gắn liền chặt chẽ với thế giới Hồi giáo. Châu Âu dường như đặc biệt quan ngại về sự nổi lên của những người Hồi giáo cực đoan bên trong biên giới châu Âu. Những người khích động các cuộc tấn công Paris ngày 13/11/2015 đa số là các thanh niên Hồi giáo sinh ra và lớn lên tại châu Âu, chứ không phải ở Trung Đông.

Ít trí thức châu Âu ngày nay tin rằng châu Âu có cách để tiến tới chung sống hòa bình với người Hồi giáo trong và ngay bên ngoài biên giới châu Âu. Hiện nay ở châu Âu, người ta bị thôi thúc xây tường và đưa ra các biện pháp kiểm soát biên giới.

Trump cho thấy rằng thậm chí ngay cả trong xã hội Mỹ vốn tương đối cởi mở, họ cũng bị thôi thúc xây tường và cấm người Hồi giáo.

Trí thức Mỹ và châu Âu cần làm một cuộc hành hương trí tuệ về Đông Nam Á. Họ cần hòa mình vào một khu vực của hy vọng và trải nghiệm một thế giới nơi các nền văn minh khác nhau chung sống trong hòa bình và cùng nhau tiến bộ.

Châu Âu trong bốn thế kỉ qua là châu lục thành công nhất, đặc biệt về tiến bộ kinh tế và xã hội. Tương tự, Mỹ cũng trở thành xã hội thành công nhất trong lịch sử nhân loại. Không xã hội nào khác có thể theo kịp năng suất kinh tế và khả năng sáng tạo văn hóa (hay sức mạnh quân sự vượt trội của Mỹ).

Thế nhưng dù là xã hội thành công nhất trên thế giới, tầng lớp trung lưu Mỹ đang là nạn nhân của tư tưởng bi quan theo hướng châu Âu. Tỉ lệ tự sát trong nam giới trung lưu da trắng đã tăng đáng kể.

Fareed Zakaria đã viết về vấn đề này như sau: “Nguyên nhân cái chết cũng như sự thật ngày càng có nhiều người chết đều đáng lo ngại như nhau: tự sát, nghiện rượu hay dùng quá liều thuốc kê đơn và thuốc bất hợp pháp. 'Người ta dường như đang dần dần hoặc nhanh chóng tự giết chết bản thân’ (Angus) Deaton cho tôi biết. Các trường hợp này thường do căng thẳng, trầm cảm và tuyệt vọng gây ra.”

Tỉ lệ tự sát gia tăng là biểu hiện cực đoan nhất của tâm lý bi quan càng ngày càng phổ biến. Việc thúc đẩy thái độ bi quan trong đời sống chính trị hiện tại ở Mỹ và châu Âu là một mối nguy hiểm. Sự bi quan này, không còn nghi ngờ gì nữa, đang giết chết triển vọng những nhà lãnh đạo theo đường lối ôn hòa có óc xét đoán. Sự sụp đổ của chiến dịch tranh cử tổng thống của Jeb Bush trong cuộc bầu cử sơ bộ tổng thống Đảng Cộng hòa năm 2016 và sự thất bại càng choáng váng hơn nữa của Hilary Clinton tháng 11/2016 chứng minh rõ điều này.

Thế thì liệu bi quan đồng nghĩa với việc không thể sản sinh ra những nhà lãnh đạo cải cách tích cực ư? Tại đây, câu chuyện về Asean có thể mang đến chút hy vọng trong thời buổi bất ổn của chúng ta. Năm người đàn ông dũng cảm kí kết bản tuyên bố thành lập Asean ngày 8/8/1967 bao gồm một người Thái theo đạo Phật, một người Philippines theo đạo Cơ đốc, hai người đạo Hồi và một người từng theo đạo Hindu. Xuất thân văn hóa của họ không thể nào đa dạng hơn nữa.

Nếu phải tập hợp một nhóm nhân vật nhằm lập ra tổ chức khu vực thành công thứ hai trên thế giới, ắt sẽ không ai bắt đầu từ năm con người  đến từ năm quốc gia như thế này.

Giờ hãy tưởng tượng một thế giới nơi Donald Trump (một người theo Cơ đốc giáo), Tập Cận Bình (một nhà Cộng sản Nho giáo), Vladimir Putin (một người Cơ đốc giáo chính thống), Ayatollah Khamenei (một người Hồi giáo) và Narendra Modi (một người Hindu giáo) tập hợp lại để kí tuyên bố hợp tác hòa bình. Xét đến nhiều sự khác biệt về chính trị giữa năm nhà lãnh đạo này, hợp tác hòa bình giữa họ dường như là điều không tưởng. Tuy nhiên sự khác biệt chính trị giữa năm người cha sáng lập Asean cũng lớn như thế, thậm chí còn lớn hơn.

Nếu chúng ta nhớ lại khởi điểm năm 1967 của Asean, thành tựu mà tổ chức này đạt được chỉ có thể nói là phi thường. Nếu Asean có thể duy trì đà phát triển hiện tại, không có giới hạn nào mà Asean không thể đạt được. Càng vươn lên tầm cao mới, ngọn hải đăng dẫn đường Asean sẽ càng soi sáng hơn cho nhân loại.

Bài dịch từ http://www.straitstimes.com/opinion/why-asean-deserves-a-nobel-peace-prize

Về tác giả: Giáo sư Kishore Mahbubani là một nhà cựu ngoại giao người Singapore. Hiện ông đang giữ chức Hiệu trưởng của Trường Chính sách công Lý Quang Diệu tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS)

Kishore Mahbubani